Lúa là cây hằng niên có bộ nhiễm sắc thể 2n=24. Cây có đa dạng các chủng loại, chính vì thế quá trình phân loại vô cùng phức tạp và kỳ công. Để phân loại lúa được đầy đủ và chính xác phải dựa vào nhiều yếu tố. Sinh Học Châu Á kính mời quý độc giả cùng tìm hiểu về chúng tôi về 6 cách thức phân loại lúa được biết đến nhiều nhất.

1. Phân loại dựa trên đặc tính thực vật học
Về phân loại thực vật học, cây lúa thuộc họ Hòa thảo (Gramineae), tộc Oryzaea, chi Oryza. Trong đó chi Oryza có khoảng 20 loài phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới ẩm.
Chi Oryza có 2 loài là lúa trồng, được canh tác nhiều nhất là loài Oryza sativa L ở khắp nơi trên thế giới.; một loài khác là Oryza glaberrima Steud. thì chủ yếu được trồng tại một số quốc gia nằm ở miền Tây châu Phi. Các loài còn lại hầu hết là các giống lúa hoang.
Theo tài liệu nghiên cứu của Tateoka (1963) thì ông tìm lấy 22 loài, trong đó Oryza sativa L. và Oryza glaberrima Steud. Trong nghiên cứu của ông thì có 2 loài mới được bổ sung là : O. longiglumis Jansen và O. angustifolia Hubbard.
2. Phân loại lúa theo sinh thái địa lý
Ở Trung Quốc, từ trăm năm trước người ta chia các giống lúa thành 3 nhóm chính bao gồm: Hsien, Keng và nếp.
Ở Nhật Bản, các nhà khoa học đã căn cứ vào phân bố địa lý, hình thái thực vật, độ bất dục lai tạo và phản ứng huyết thanh mà chia nhóm lúa trồng thành 2 loài phụ là “indica” và “japonica”.

Trong đó, nhóm lúa Indica (lúa tiên) tập trung phân bố ở vùng nhiệt đới. Lúa Japonica (lúa cánh) thì được trồng nhiều ở khu vực cận nhiệt đới và ôn đới. Về sau, người ta tìm thấy một nhóm nữa là Javanica xuất phát từ Indonesia.
Dưới đây là một số đặc tính của các nhóm lúa trên:
|
Đặc tính |
INDICA |
JAVANICA |
JAPONICA |
|
Thân |
Thân cao |
Thân trung bình |
Thân thấp |
|
Chồi |
Nở bụi mạnh |
Nở bụi thấp |
Nở bụi trung bình |
|
Lá |
Lá rộng, xanh nhạt |
Lá rộng, cứng, xanh nhạt |
Lá hẹp, xanh đậm |
|
Hạt |
Hạt dài, thon đẹp Hạt không có đuôi Vỏ trấu ít lông, lông ngắn Hạt dễ rụng |
Hạt to, dày Hạt có hoặc không có đuôi Vỏ trấu có lông dài Hạt ít rụng |
Hạt tròn, ngắn Hạt có hoặc không có đuôi Lông trấu dài và dày Hạt ít rụng |
|
Sinh học |
Cảm quang rất thay đổi |
Cảm quang yếu |
Cảm quang rất thay đổi |
*Thông tin tham khảo từ “Giáo trình cây lúa” được biên soạn bởi Nguyễn Ngọc Đệ.
3. Phân loại dựa theo tính cảm quang
Cây lúa thuộc nhóm cây ngắn ngày ( tức là cảm ứng ra hoa trong điều kiện quang kỳ ngắn).
Dựa vào khả năng cảm quang của từng giống mà người ta phân biệt thành 2 nhóm chính: nhóm cảm quang và nhóm không cảm quang.

3.1. Nhóm cảm quang
Đây là nhóm lúa có phản ứng với quang kỳ, chỉ ra hoa khi điều kiện ánh sáng ngày ngắn (lúa mùa). Dựa vào mức độ cảm quang mạnh – yếu mà có các nhóm lúa mùa như lúa mùa sớm, lúa mùa lỡ, lúa mùa muộn.
Lúa mùa sớm: thường có tính cảm quang yếu, cho hoa rơi khoảng tháng 9 – 10 và thu hoạch vào tháng 10 – 11
Lúa mùa lỡ: có tình cảm quang trung bình, thời gian trổ rơi vào tháng 11 và chín khoảng tháng 12.
Lúa mùa muộn: có tính cảm quang rất mạnh, cây thường trổ chín trong khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau. Giống rất khó canh tác trái mùa.
Hầu hết các nhóm lúa cổ truyền của Việt Nam thường là có tính cảm quang. Hiểu rõ tính cảm quang của lúa rất có ích trong công tác chọn giống canh tác thích hợp theo từng khu vực địa lý. Tuy nhiên, các giống lúa có tính cảm quang chỉ thường được trồng một vụ/năm, rất khó canh tác trái mùa.
3.2. Nhóm không cảm quang
Để đáp ứng nhu cầu thâm canh nhiều vụ, các giống lúa mới không ngừng được lai tạo. Các giống này hầu hết thuộc nhóm giống lúa không cảm quan. Trung bình vòng đời của cây có kéo dài từ 90 – 150 ngày và có khả năng trổ chín vào nhiều thời điểm trong năm.
4. Phân loại theo điều kiện môi trường trồng
Dựa theo nhu cầu nước mà có các nhóm lúa: lúa rẫy và lúa nước. Trong lúa nước lại được chia làm lúa có tưới, lúa nước sâu, lúa nước trời, lúa nổi.
Dựa theo khả năng thích nghi với môi trường thì có nhóm lúa chịu phèn, nhóm lúa chịu mặn, nhóm lúa chịu hạn,…
Dựa theo khả năng thích ứng nhiệt độ có các nhóm: nhóm chịu lạnh (thường là giống japonica) và nhóm chịu nhiệt (thường là Indica).
5. Phân loại theo đặc tính của hạt gạo
Căn cứ vào hàm lượng amylose trong hạt gạo mà có 2 loại lúa nếp và lúa tẻ. Hàm lượng amylose (%) càng thấp thì gạo càng dẻo.
Bà con tham khảo một số thông số phân loại dựa vào hàm lượng amylose bên dưới:
|
Phân cấp |
Hàm lượng Amylose (%) |
Loại gạo |
|
0 |
< 3.0 |
Nếp |
|
1 |
3.1 – 10.0 |
Rất thấp (gạo dẻo) |
|
3 |
10.1 – 15.0 |
Thấp (gạo dẻo) |
|
5 |
15.1 – 20.0 |
Trung bình (gạo hơi dẻo) |
|
7 |
20.1 – 25.0 |
Trung bình – cao (hơi dẻo) |
|
9 |
25.1 – 30.0 |
Cao (gạo cứng) |
*Nguồn: Chang, 1980
6. Phân loại theo hình thái
Căn cứ vào các đặc điểm hình thái của cây sẽ có các dạng giống như sau:
- Dựa vào chiều cao cây: giống lúa cao (> 120cm), giống trung bình (100 – 120cm), giống thấp (<100cm)
- Dựa vào hình thái lá: lá thẳng hoặc cong, bản to hoặc nhỏ, dày hoặc mỏng.
- Dựa vào hạt lúa: lúa hạt dài, lúa hạt trung bình và lúa hạt tròn.
- Dựa vào hạt gạo: gạo trắng hoặc gạo đỏ; bạc bụng hoặc không,..
Xem thêm thông tin về đặc điểm hình thái cây lúa tại đây!
Trải qua quá trình dài canh tác, con người vừa thuần hóa vừa lai tạo tạo nên sự đa dạng đáng kể đối với lúa. Trồng lúa không chỉ là một nghề mà trở thành một nền văn minh lớn của nhân loại. Việc hiểu rõ cách thức phân loại lúa sẽ giúp cho nông dân và các nhà nghiên cứu dễ dàng hơn trong việc chọn tạo giống.





