Biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay đang đánh lên hồi chuông cảnh báo của Mẹ thiên nhiên . Nông nghiệp là một lĩnh vực chiếm tỷ lệ phần trăm lớn lượng chất thải ra môi trường. Chính vì thế vấn đề canh tác nông nghiệp bền vững đang ngày được quan tâm. Nhiều biện pháp về nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn được đưa ra, trong đó có “Công nghệ sinh thái”. Vậy “Công nghệ sinh thái” là gì? Lợi ích ra sao? Mời quý độc giả cùng chúng tôi tìm hiểu các thông tin về xu thế nông nghiệp này trong bài viết dưới đây!
Công nghệ sinh thái là gì?
Thuật ngữ Công nghệ sinh thái (Ecological engineering) được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1962 bởi nhà sinh thái học người Mỹ là Dr Odum với định nghĩa là “Sự thao tác của con người về môi trường bằng cách sử dụng một khối năng lượng bổ sung nhỏ để điều khiển một hệ thống mà trong đó các nguồn năng lượng chính yếu vẫn đang tiếp tục được huy động đến từ nguồn tài nguyên tự nhiên”.
Khái niệm này khá trừu tượng nên để dễ hiểu hơn, người ta lý giải như sau:
Công nghệ sinh thái chính là việc kiến thiết lại ruộng lúa, vườn trồng với mục đích làm gia tăng sự đa dạng hóa về thảm thực vật (Flora) và động vật (Fauna). Nói cách khác chính là làm phong phú hơn hệ sinh thái đồng ruộng. Từ đó tạo nên một chuỗi thức và chuỗi thức ăn trong sự biến động nhưng vẫn đảm bảo cân bằng ( còn được gọi là “Dịch vụ sinh thái” – Ecological Services).
Từ chuỗi dịch vụ này, thiên địch trong tự nhiên sẽ tấn công các đối tượng gây hại để mật số của chúng ở mức thấp không ảnh hưởng đến năng suất và không cần phải sử dụng thuốc BVTV.
Lợi ích của Công nghệ sinh thái
Thu hút thiên địch, đặc biệt là ong mật và ong ký sinh

Trong các mô hình công nghệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái trên đồng ruộng thì hệ thực vật là hoa trên đồng rất nhiều. Chính vì vậy mà thu hút rất nhiều thiên địch đến sinh sống. Chúng sẽ tấn công các loài sâu hại trên đồng, một mặt vừa làm đa dạng sinh thái, một mặt vừa bảo vệ sự cân bằng.
Tiết kiệm chi phí phân thuốc và gia tăng lợi nhuận
Nhờ các bờ hoa thu hút thiên địch, đặc biệt là ong ký sinh, chúng sẽ tấn công ký sinh trứng của các loại sâu rầy trên ruộng, khiến cho mật số của các đối tượng hại này luôn duy trì ở mức thấp gây hại không đáng kể. Chính vì vậy không cần sử dụng các loại thuốc trừ sâu. Từ đó giúp bà con nông dân tiết kiệm chi phí đầu tư.
Công nghệ sinh thái còn giúp làm gia tăng thu nhập từ việc trồng xen canh các loại cây trồng khác hoặc là kết hợp vừa trồng lúa vừa nuôi tôm, nuôi cá đem lại thu nhập hai đầu cho bà con.
Hiện nay nhiều nông hộ còn kết hợp công nghệ này để thúc đẩy du lịch sinh thái, du lịch đồng quê.
Tạo cảnh quan nông thôn
Việc trồng hoa dọc quanh các bờ ruộng khiến cho bức tranh đồng quê trở nên rực rỡ sắc màu hơn, tạo mỹ quan nông thôn, khiến cho tinh thần con người trở nên vui tươi, phấn khởi. Nói một cách khác công nghệ sinh thái còn góp một vào việc chăm sóc “sức khỏe tinh thần (Mental health) cho bà con nông dân.
Các mô hình công nghệ sinh thái điển hình
Có rất nhiều mô hình công nghệ sinh thái đã được áp dụng triển khai, dưới đây là một số mô hình tiêu biểu:
Mô hình ruộng lúa bờ hoa

Sản xuất lúa theo công nghệ sinh thái “ruộng lúa bờ hoa” nằm trong chương trình “ Quản lý dịch hại tổng hợp bằng công nghệ sinh thái” được thí điểm lần đầu vào năm 2010 tại Cai Lậy và Cái Bè (Tiền Giang).
Mô hình là sự kết hợp giữa việc trồng lúa và trồng hoa trên bờ ruộng. Mục đích của việc trồng hoa là để thu hút các loài côn trùng có ích, gia tăng mật số thiên địch. Tận dụng thiên địch để kiểm soát rầy rệp, sâu non,…. góp phần hạn chế lượng thuốc BVTV, tiết kiệm chi phí sản xuất cho bà con nông dân.
Có đa dạng loại hoa thích hợp trồng trên bờ ruộng. Bà con nên ưu tiên chọn các loại hoa dễ trồng, ít tốn công chăm, ra hoa quanh năm, màu sắc sặc sỡ sẽ thu hút thiên địch nhiều tốt hơn.
“Ruộng lúa bờ hoa” không chỉ giúp cân bằng sinh thái, giảm thiểu chi phí sản xuất mà còn vẽ nên những bức tranh làng quê tuyệt đẹp.
Mô hình lúa – tôm

Mô hình lúa – tôm được xem là điểm sáng trong mô hình thông minh thích ứng biến đổi khí hậu. Đây là sự kết hợp độc đáo giữa cây lúa và con tôm ở các vùng đất mà trước đây chỉ canh tác được mùa nước nổi.
Mô hình này đem đến sự đa dạng về sản phẩm đầu ra và còn rất thân thiện với môi trường, phù hợp trong việc canh tác lúa hữu cơ và đáp ứng các yêu cầu về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP).
Mô hình này đã đem đến nguồn thu nhập lớn, giúp nhiều hộ nông dân ở khu vực ven biển, khu vực nhiễm mặn thoát nghèo.
Mô hình xen canh và trồng cây che phủ đất

Mô hình này thường áp dụng đối với các vườn cây công nghiệp, cây ăn quả, nhất là ở các vùng đất có độ dốc cao, dễ bị rửa trôi.
Việc trồng xen canh (trồng che phủ đất) giúp hạn chế rửa trôi, xói mòn, duy trì độ ẩm cho đất. Đồng thời, mô hình này còn giúp bà con tăng nguồn thu nhập từ các nguồn cây trồng khác nhau.
Cây họ Đậu là một trong những cây được sử dụng trong trồng xen nhiều nhất. Bởi trong rễ của cây họ Đậu có các loại vi sinh vật cố định đạm có tác dụng rất lớn trong việc cải tạo đất.
Công nghệ sinh thái đã – đang và sẽ là xu thế nông nghiệp được ưu tiên áp dụng dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như hiện nay. Nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp bền vững cần một quá trình dài để thực hiện và cần một sự đồng lòng từ 3 phía ( nông dân – doanh nghiệp – chính phủ).
Sinh Học Châu Á hân hạnh đồng hành cùng bà con mình trong hành trình này. Chúng tôi sẵn sàng “Trao trọn giải pháp xanh” vì một nền nông nghiệp xanh.





