Đặc điểm sinh lý của lúa: Dinh dưỡng khoáng

Có nhiều yếu tố tác động đến quá tiến trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Trong đó, yếu tố dinh dưỡng khoáng của cây có một vai trò không nhỏ. Kính mời quý độc giả cùng Sinh Học Châu Á tìm hiểu một số dinh dưỡng khoáng thiết yếu đối với quá trình trồng lúa.

Các yếu tố dinh dưỡng đa – trung – vi lượng có vai trò quan trọng trong sự phát triển cây 

1. Khả năng thích nghi của cây lúa đối với môi trường ngập nước.

Lúa phát triển trong điều kiện ngập nước

Lúa nước sống trong môi trường đồng ruộng ngập nước, nồng độ oxy thấp để có thể thích nghi, cây có những khả năng đặc biệt.

  • Khả năng vận chuyển oxy

Trong điều kiện ngập nước, nồng độ oxy thấp, để có thể sống và phát triển cây có những tế bào đặc biệt để vận chuyển không khí từ lá, thân xuống hệ thống rễ. Đây là sự khuếch tán vật lý không khí theo không bào và phần rỗng của thân lúa. Quá trình vận chuyển oxy từ lá thân xuống rễ sẽ hao hụt dần. Do đó trong môi trường ngập nước (quá lâu) rễ không phát triển, chiều dài rễ ngắn hơn rõ rệt so với điều kiện thoáng khí.

  • Khả năng oxid hóa của rễ thông qua sự khuếch tán oxy từ rễ ra ngoài môi trường.
  • Khả năng hình thành và phát triển hệ rễ bất định ở tầng trên mặt đất và trong nước để hấp thụ oxy bổ trợ cho hệ thống rễ bên dưới.
  • So với các cây trồng khác thì rễ của cây có khả năng hô hấp yếm khí tốt hơn.
  • Rễ lúa có khả năng kiểm soát và loại trừ một số chất có hại nhất định, ví dụ như oxi hóa sắt, ngăn chặn sự xâm nhập của sắt vào gây hại cho rễ.

2. Dinh dưỡng đạm 

Bón dinh dưỡng cân đối 

Đạm (N) là thành phần quan trọng tham gia cấu thành hình thái cây, tạo nên protein, diệp lục, gia tăng chiều cao, đâm chồi và phát triển kích thước lá thân. 

Để dự đoán tình trạng của cây lúa với nhu cầu đạm, người ta thường xác định dựa trên màu sắc lá, kích thước lá, chiều cao cây và khả năng đẻ nhánh của cây.

Khi thiếu đạm, cây lùn, đẻ nhánh ít, chồi nhỏ, lá hẹp, lá có màu vàng và rụi sớm. Đặc biệt trong giai đoạn sinh sản nếu thiếu đạm thì bông sẽ có kích  thước ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và có nhiều hạt lép.

Khi cây thừa đạm, các bộ phận thân lá phát triển quá mức. Thân mềm, dễ đổ ngã, lá phát triển xum xuê dễ bị sâu bệnh hại tấn công.

Một điểm đặc biệt ở cây lúa là chúng có khả năng hấp thu và sử dụng dậm ở cả dạng Nitrat (NO3–) và ammonium (NH4+). 

Ở thời điểm sinh trưởng ban đầu, đạm được tích lũy ở lá, thân; khi trổ khoảng 48 – 71% đạm được vận chuyển lên bông.

Khi bón phân đạm cho ruộng, đạm thường mất đi do nhiều nguyên nhân, chỉ có khoảng 30 – 50% là được cây trồng hấp thu.

3. Dinh dưỡng lân

Lân là chất tạo năng lượng, là thành phần cấu tạo quan trọng trong ATP, NADH,… Lân bổ trợ quá trình cây trồng sử dụng và tổng hợp đạm trong cây. Lân giúp kích thích phát triển rễ, đẻ nhánh mạnh, tăng số hạt trên bông, hỗ trợ chín sớm và đồng loạt.

Ở giai đoạn đầu lúa rất cần lân nên cần tiền hành bón lót trước khi sạ. Khi trổ chín, khoảng 37 – 83% lân được vận chuyển nuôi bông.

Ở các vùng trồng bị nhiễm phèn thường xảy ra tình trạng thiếu lân. Nguyên nhân là do lân bị cố định bởi các ion sắt, nhôm khiến cây không thể hấp thu được. 

Khi thiếu lân, cây có một số biểu hiện như là cây lùn, đẻ nhánh kém, lá thẳng và hẹp, màu sắc lá sẫm hơn bình thường hoặc có thể chuyển sang màu tím đậm. Cây sẽ trổ và chín muộn, vào gạo không no và chất lượng hạt gạo giảm đáng kể.

4. Dinh dưỡng Kali

Kali tham gia vào quá trình vận chuyển và tổng hợp các chất, gia tăng sức đề kháng của cây trồng đối với các yếu tố sâu bệnh, thời tiết, gia tăng số hạt chất trên bông và làm no hạt lúa, giúp tăng năng suất.

Phần lớn kali tập trung chủ yếu trong các rơm rạ của lúa, chỉ có khoảng 6 – 20% là nằm ở trên bông.

Khi thiếu kali cây có hiện tượng mềm rủ, dễ đổ ngã, giá mau rụi và khả năng phơi nhiễm bệnh cao.

5. Silic (Si)

Silic hỗ trợ quá trình cứng cây

Silic được lúa hấp thu rất nhiều, là thành phần dinh dưỡng quan trọng của lúa. Khoảng 60% silic tập trung ở thân lúa, 20% là nằm trên bông.

Silic là chất quan trọng trong việc gia tăng độ cứng cáp của thành vách tế bào, giúp cây hạn chế độ ngã và chống sự xâm nhập của bệnh hại, côn trùng, tăng cường khả năng chịu hạn của lúa.

Đồng thời, ở khía cạnh khác, silic trợ lực gia tăng khả năng oxid hóa của rễ lúa để ngăn chặn sự hấp thu sắt và mangan quá mức.

6. Sắt

Lúa cần một lượng nhỏ sắt vì sắt tham gia cấu thành của Chlorophyll (diệp lục tố) và một số thành phần khác của cây.

Một số dấu hiệu điển hình để nhận biết cây bị ngộ độc sắt là có những đốm nâu đỏ ở chóp lá, rồi lan dọc theo gân lá xuống bên dưới. Sau đó thì cả lá bị đỏ, bụi lúa còi cọc, rễ không phát triển.

Dinh dưỡng là cần thiết cho cây trồng, song việc bổ sung như thế nào là hợp lý đòi hỏi kiến thức và kinh nghiệm từ nhà nông. 

Xem thêm các yếu tố sinh lý khác của lúa:

Tính miên trạng tại đây!

Quang hợp và hô hấp tại đây!