Tổng hợp các biện pháp kiểm soát dòi đục lá lúa

Dòi đục lá (Whorl maggot) trước đây đã có mặt trên các ruộng lúa nhưng chưa được biết đến rộng rãi do mức độ gây hại rất thấp. Những năm gần đây, do sự biến đổi của khí hậu mà chúng gây hại ở mức cao hơn, nhiều địa phương xuất hiện diện tích lúa bị hại lớn nhưng chưa có kinh nghiệm thực tế để xử lý đối tượng này. Kính mời độc giả cùng Sinh Học Châu Á tìm hiểu tổng quan thông tin về dòi đục lá lúa.

  • Tên khoa học: Hydrellia Philippina
  • Tên gọi khác: ruồi đục lá, dòi đục ngọn

1. Đặc điểm của dòi đục lá

Đặc điểm của ruồi đục lá trưởng thành

Ruồi đục lá được ghi nhận lần đầu tiên ở Philippin và ngày nay đã hiện diện ở nhiều vùng trồng lúa trên khắp thế giới. Trước đây, ruồi tuy xuất hiện nhiều ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long nhưng mức độ gây hại không đáng kể, thậm chí nhiều bà con nông dân chưa biết đến sự tồn tại của loài chúng trên ruộng.

Trong những năm gần đây, dưới sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, một số địa phương sự gây hại của ấu trùng ruồi đã bắt đầu được quan tâm.

Ruồi đục lá có hình dạng tương tự ruồi nhà nhưng kích thước nhỏ hơn. 

  • Ruồi có chiều dài thân dao động từ 2 – 5mm, có màu xám. Cánh trong suốt, sải cánh dài 2,5 – 3,5mm. Sau khi vũ hóa khoảng 3 – 4 ngày con cái đã có thể giao phối đẻ trứng. Con cái đẻ khoảng 100 trứng trong vòng đời của chúng.
  • Giai đoạn trứng: Thời gian trứng từ 3 – 7 ngày. Trứng có hình bầu dục, màu trắng, trứng bám dính trên lá nhờ chất dịch tiết ra từ ruồi cái.
  • Giai đoạn ấu trùng (dòi):Thời gian dòi kéo dài 10 – 14 ngày. Dòi có 3 tuổi. Dòi có hình trụ, có chiều dài là 6 -7 mm. Dòi mới nở có màu trắng sữa và chuyển dần sang màu vàng nhạt.
  • Giai đoạn nhộng: Nhộng có thời gian phát triển từ 7 – 10 ngày. Nhộng có hình trụ, dài 3 – 4mm, có màu nâu nhạt. Cuối phần bụng của nhộng có 2 phần gai nhọn.

Ruồi rất thích các ruộng lúa non mới cấy. Thành trùng hoạt động vào ban ngày và hoạt động ở khu vực các lá lúa gần mặt nước.

Ruồi có hình dạng như ruồi nhà nhưng kích thước nhỏ hơn

2. Dòi đục lá gây hại trên lúa

Biểu hiện của lúa bị dòi đục lá tấn công

Dòi đục lá gây hại cho lúa chủ yếu ở giai đoạn đầu, từ khi lúa cấy đến giai đoạn 30 ngày sau sạ. 

Trứng khi nở ra thành dòi, nhờ sương, dòi sẽ di chuyển đến các chồi non, ăn các lá non bằng cách chích hút dịch và mô lá. Chính vì vậy mà lá cây sẽ có hiện tượng các vệt màu vàng nhạt hoặc màu trắng trên lá; một số lá thì bị thủng; một số lá thì đứt ngang. 

Dưới sự gây hại của dòi đục lá, lá lúa khô héo. cây giảm khả năng nở bui rõ rệt, quá trình tăng trưởng diễn ra chậm chạp, cây còi cọc, thấp lùn.

Dòi đục lá lúa còn làm dẫn đến tình trạng lúa chín muộn (từ 7 – 10 ngày) so với thời gian thu hoạch dự kiến.

Quản lý sâu đục thân hại lúa

Quản lý sâu cuốn lá hại lúa

3. Biện pháp quản lý

Biện pháp canh tác:

  • Làm đất trước khi trồng lúa, cày bừa để vùi cỏ dại, diệt ấu trùng và nhộng.
  • Vệ sinh đồng, dọn cỏ thường xuyên.
  • Giai đoạn đầu (30 ngày sau sạ) nên giữ nước xâm xấp mặt ruộng để hạn chế ruồi đẻ trứng

Biện pháp hóa học:

Việc sử dụng thuốc BVTV chỉ cần thiết khi mật độ ruồi hiện diện trên ruộng quá cao hoặc ruồi xuất hiện muộn. 

Một số hoạt chất hóa học có khả năng tiêu diệt dòi đục lá lúa như là: Imidacloprid, Fipronil, Acephate,…

Lưu ý: Giai đoạn lúa còn nhỏ nên hạn chế sử dụng thuốc BVTV. Cần tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV để tránh tác động đến môi trường, sinh thái và sức khỏe con người. Việc sử dụng thuốc BVTV thường xuyên dễ dẫn đến tình trạng chai đất và kháng thuốc ở côn trùng – sâu hại.

Biện pháp sinh học:

Nấm trắng (Beauveria) không chỉ là thiên địch của ruồi mà còn nhiều loại côn trùng khác
  • Sử dụng các chế phẩm sinh học chứa các loại vi sinh vật ký sinh ruồi đục lá như là: Beauveria, Metarhizium, Bacillus,...

Sinh Học Châu Á xin giới thiệu đến bà con sản phẩm chuyên xử lý và xua đuổi ruồi FYGO. Sản phẩm giúp tiêu diệt trứng và ấu trùng ruồi hiệu quả, đồng thời tinh dầu có trong sản phẩm giúp xua đuổi ruồi tránh xa. 

Nhấp vào  đây để xem thêm thông tin về sản phẩm!

Chúc quý bà con có một mùa vụ thuận lợi! Đón xem các phần tiếp theo của kỹ thuật trồng và chăm sóc lúa.